Đảng Nhân Dân Hành Động > Trang chủ > Quan điểm-Bình luận
I- Chính trị là gì?

Từ "chính trị" của Việt Nam là một từ ghép "Chính" có nghĩa là quang minh chính đại, nghịch lại với "tà". "Trị" có nghĩa là an bang tế thế. "Chính trị" có nghĩa là an bang tế thế bằng danh chánh ngôn thuận, bằng con đường chính nghĩa, lấy "đạo người" làm gốc.

 

Hy lạp gọi "chính trị" là Politic. Từ Politic có liên quan với hai từ Politi và Politica. Politi có nghĩa là sự suy nghĩ. Politica có nghĩa là hành động khởi đi từ suy nghĩ. Nguyên ngữ Politic của Hy Lạp có nghĩa là kết quả của một hành động khởi đi từ sự suy nghĩ.

 

Anh/Mỹ gọi "chính trị" là Politics. Từ Politics là dạng từ số nhiều của từ Politic. Politic trong ngôn ngữ Anh/Mỹ có nghĩa là thận trọng và khôn khéo. Nguyên ngữ Politics của Mỹ/Anh có nghĩa là việc làm nhiều thận trọng và đầy khôn khéo.

 

Tóm lại, chính trị là quá trình hình thành từ sự suy nghĩ chín chắn, thận trọng, khôn khéo, quang minh chính đại, dẫn đến hành động quyết liệt trong mục đích thể hiện tích cực sự suy nghĩ chín chắn, thận trọng, khôn khéo, quang minh chính đại đó cho đến khi mang tới thành quả tốt đẹp.

 

Trong quy mô, ảnh hưởng tới thể chế quốc gia và quyền lợi của một dân tộc:

Chính trị là nghệ thuật vươn tới lãnh đạo dân tộc, xây dựng, củng cố và phát triển đất nước, mang lại sự tốt đẹp cho quốc gia dân tộc.


II- Ðảng chính trị là gì?

 

Chúng ta minh định rằng ÐNDHÐ là một đảng chính trị chính thống. 

Vậy chúng ta đã hiểu "Ðảng chính trị" là gì?

  • "Ðảng" là một tập hợp đại chúng có cùng chính kiến, có tổ chức, có quy luật, có lãnh đạo.

  • "Chính trị" là nghệ thuật vươn tới lãnh đạo dân tộc xây dựng, củng cố và phát triển đất nước, mang lại sự tốt đẹp cho quốc gia dân tộc.

  • "Ðảng chính trị" là một tập hợp đại chúng có cùng chính kiến, có cơ cấu tổ chức quy củ, có hệ thống lãnh đạo chặt chẽ, cùng phục vụ cho một chủ trương, một đường lối, một chính sách thống nhất, cùng một lập trường và cùng quyết tâm vươn tới mục tiêu tối hậu là lãnh đạo nhân dân, xây dựng, củng cố và phát triển đất nước, mang lại sự tốt đẹp cho quốc gia dân tộc.

III- Thế nào là một đảng chính trị chân chính?

Ðảng chính trị chân chính:

  • Là đảng chính trị xuất phát từ dân, do dân, vì dân mà hành động, không vì quyền lợi riêng của một cá nhân nào mà đi ngược lại nguyện vọng của đại thể quần chúng nhân dân.

  • Là đảng tập hợp những người cùng chính kiến, cùng một lý tưởng, cùng một lòng đấu tranh cho mục tiêu thật chính nghĩa và kiên quyết đi tới đích.

  • Là đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh không xuất phát từ lòng căm thù mà xuất phát từ trái tim yêu dân mến nước, được thể hiện bằng hành động thực tiễn vì ích nước lợi dân.

  • Là đảng, khi đứng trong vị thế đấu tranh, đấu tranh trong ôn hòa, đối thoại là chủ yếu, bày tỏ chính kiến xây dựng là chính, tránh bạo động và bảo toàn tài sản quốc gia dân tộc phải được chú trọng đặt lên hàng đầu của chính sách.

  • Là đảng, trong quá trình lớn mạnh, phải thật sự lớn lên bằng lòng nhiệt thành dấn thân của đảng viên và cán bộ các cấp, bằng ý thức trách nhiệm công dân của những người tự nguyện tham gia đấu tranh. Dứt khoát không lớn lên bằng thủ đoạn, lừa dụ, phỉnh gạt hoặc nài nỉ hay hù dọa. Không lớn lên bằng thủ thuật đầu cơ đón gió. Không lớn lên bằng sự dẫm đạp, dìm diệt các đảng phái chân chính khác.

IV- Thế nào là một Ðảng chính trị không chân chính.

Ðảng chính trị không chân chính:

  • Là đảng xuất phát từ một nhóm người đầy tham vọng, sẵn sàng vì quyền lợi riêng của nhóm, bất chấp nguyện vọng của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân, luôn luôn hành động cơ hội trục lợi.

  • Là đảng không có chủ trương rõ rệt, không có đường lối cụ thể, không có chính sách minh bạch, tùy cơ ứng biến. Luôn luôn có âm mưu đen tối, mờ ám, chuyên môn xảo quyệt.

  • Là đảng không có tổ chức quy củ, không có phân công trách nhiệm nghiêm túc, ai cũng có thể dẫm đạp lên chức năng của người khác và sẵn sàng đổ lỗi cho nhau khi có sự cố.

  • Là đảng, khi thấy có lợi thì lao tới giành phần, khi thấy khó khăn thì chùng bước, khi thấy nguy cơ thì chạy trốn, quy trách cho người khác và sẵn sàng bán đứng anh em để được an toàn.

  • Là đảng, đối với nhân dân thì tung các chiêu bài lừa dụ, phỉnh gạt bằng các hứa hẹn vô trách nhiệm về quyền lợi, thậm chí còn hù dọa khi muốn bức ép người dân phải làm theo ý muốn của họ. Trước công luận thì lời lẽ trau chuốt mị dân.

  • Là đảng, đối với nội bộ thì nhắm mắt tán tụng nhau khi cần lấy lòng nhau, đâm sau lưng nhau khi cần củng cố quyền lực và quyền lợi riêng, phong cấp hàm quan tướng cho nhau vung vít. Họ tranh đấu cho ai? Họ đã vứt đi đâu cái nguyên tắc "đấu tranh cho tự do, đa đảng"?

  • Là đảng, các lãnh tụ tụ năm tụ ba để vu khống xuyên tạc những tổ chức khác, không từ khước áp phe, rượu chè phè phỡn, cờ bạc hút sách...

V- Tại sao người dân cần phải quan tâm đến chính trị?

 

Thể chế chính trị của một quốc gia định đoạt số phận hiện tại và chi phối cả tương lai của một quốc gia, trong đó là quyền lợi thiết thực của nhân dân sống trong quốc gia đó.

 

Nếu người dân không quan tâm đến chính trị có nghĩa là người dân tự phó mặc số phận của mình cho nhà cầm quyền muốn làm gì thì làm, phó mặc mọi sai lầm, áp bức, bất công, kể cả sỉ nhục cứ áp đặt lên đời sống hôm nay và tương lai của mình nói riêng, của cả một dân tộc nói chung.

 

Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu, một trăm năm đô hộ bởi giặc Tây, hơn nửa thế kỷ nhân dân miền Bắc bị trói buộc trong gông cùm chủ nghĩa CS, hơn một phần năm thế kỷ nhân dân miền Nam phải bó mình trước mọi áp bức bất công và gánh chịu mọi hậu quả sai lầm trầm trọng do chính sách độc tài đảng trị khắc nghiệt của đảng CS gây nên.

Lịch sử cho thấy, đã có biết bao thảm họa xẩy đến cho quốc gia dân tộc bởi vì đa số nhân dân hãy còn thờ ơ với chính trị, bởi vì phần nhiều người dân hãy còn năng nếp nghĩ sai: "Việc chính trị là việc của nhà nước". Họ quên họ đã trả lương cho nhà nườc thông qua các bổn phận và nghĩa vụ của những công dân mà họ đã làm hằng ngày, hằng tháng, hằng năm. Họ phải nhớ, ngoài bổn phận, người dân còn có quyền tham gia việc nước và có trách nhiệm trước vận nước.

 

Trước những thảm trạng đã và đang xẩy ra trên đất nước ta, đã đến lúc mọi người dân phải ý thức bổn phận và trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc. Trước hết là thể hiện sự quan tâm sâu sắc của mình đối với vận mệnh chính trị của đất nước của dân tộc, trong đó có gia đình mình và bản thân mình. Không chỉ quan tâm mà còn phải tích cực tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các sinh hoạt chính trị quốc gia, góp phần vào việc định đoạt số phận hiện tại và tương lai của mình, gia đình mình, dân tộc mình, đất nước mình trước mọi tình huống.

 

"Hiện tại, ÐNDHÐ đang thiết lập và mở rộng cơ sở hoạt động. ÐNDHÐ đang phát huy lý tưởng và đường lối của Ðảng một cách sâu đậm đến mọi người dân Việt Nam. ÐNDHÐ đang đón chờ sự gia nhập của những người con yêu tổ quốc đầy nhiệt huyết và dũng cảm.... Chúng ta phải lên đường để dựng lên một Việt Nam mới, để mở ra con đường tự do và no ấm cho toàn dân. Ðây cũng là lúc, rất chính đáng, cho chúng ta được thể hiện lòng ái quốc và tình dân tộc. Cùng nhau, chúng ta sẽ giải quyết bằng những giải pháp ổn thoả cho những vấn đề của hôm nay và vun trồng hạt giống để chuẩn bị cho một ngày mai tươi sáng hơn". (trích lời mở đầu của Hiến Chương Ðảng Nhân Dân Hành Ðộng).

"Là con dân của tổ quốc, chúng ta luôn luôn đeo mang bổn phận phải tham gia và hoạt động cho lợi ích tối hậu của toàn dân. Chúng ta đã không chấp nhận những tệ trạng hiện nay trên đất nước chúng ta thì chính chúng ta phải hành động để chấm dứt tệ trạng đó. Chúng ta phải gạt bỏ mọi khác biệt, mọi thành kiến và cùng nhau đoàn kết thành một khối thống nhất để đưa nhau thoát khỏi nghèo khổ, bất công và bắt đầu cho một vận hội mới......Ðã đến lúc, một lần cho tất cả, chúng ta phải quyết định cho tương lai của đất nước ta". (Trích tiếng gọi hành động của Hiến Chương Ðảng Nhân Dân Hành Ðộng).


Là người dân, không những chỉ quan tâm đến chính trị mà còn phải tích cực tham gia sinh hoạt chính trị quốc gia, vì :

 

"nếu chúng ta ai cũng nghĩ đến riêng mình
thì bao giờ đất nước sẽ thay đổi?".



VI- Sự liên hệ giữa tự do, dân chủ và nhân quyền.

 

Dân chủ là quyền làm chủ của người dân. Thể chế dân chủ là thể chế được hình thành từ dân, do dân, vì dân, luôn luôn tôn trọng, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của người dân. Dưới thể chế dân chủ, người dân được tự do góp phần xây dựng đất nước bằng nhiều hình thức, có quyền tham chính một cách bình đẳng, có quyền tham gia quản lý nhà nước, có quyền phê bình xây dựng đường lối chính sách và các cấp lãnh đạo nhà nước, có quyền bày tỏ chính kiến đối lập, có quyền đấu tranh cho nguyện vọng của người dân trên mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội.

Trong sinh hoạt chính trị của một quốc gia, dân chủ là tiền đề của tự do, là nền tảng xây dựng, củng cố, bảo vệ và phát triển các quyền tự do của người dân. Có dân chủ mới có tự do. Dân chủ càng được phát huy, tự do càng được khẳng định. Trong một chế độ độc tài, dân chủ không có đất sống và tự do cũng theo đó, không tồn tại.

Trong sinh hoạt của cộng đồng loài người trên thế giới, "Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền" đã được Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1948, khẳng định các quyền tự do cơ bản của con người, quyền bình đẳng, quyền tư hữu, quyền làm chủ của mỗi con người. Nếu các nước thành viên Liên Hiệp Quốc đều nghiêm túc tôn trọng, tuân thi, bảo vệ và phát huy quyền con người thì sinh hoạt dân chủ tự do tại các quốc gia đó được tôn trọng và phát huy đồng bộ.

Dân chủ, tự do và nhân quyền có mối tương quan chặt chẽ:

  • Có dân chủ tất có tự do và nhân quyền được tôn trọng.

  • Có tự do, dân chủ sẽ được tồn tại vững bền và nhân quyền được phát huy.

  • Có nhân quyền, tự do sẽ được thăng hoa và dân chủ sẽ được hoàn thiện.

Ngược lại,

  • Dân chủ bị bóp nghẹt, tự do sẽ không có và nhân quyền bị chà đạp.

  • Tự do bị tước đoạt, dân chủ sẽ bị khống chế và nhân quyền chỉ là hư ảo.

  • Nhân quyền bị lãng quên, tự do chỉ là mơ ước và dân chủ chỉ là tấm bình phong.

Tóm laị, dân chủ, tự do và nhân quyền luôn luôn cùng nhau được tồn tại, phát huy hoặc cùng nhau bị trở thành hư ảo, triệt tiêu đều bị chi phối bởi quy luật đồngbộ, tỷ lệ thuận như phương trình bật nhất sau đây:

VII- Thế nào là tự do trong trật tự và luật pháp?

  • Một xã hội có trật tự là một xã hội có kỷ cương, yên lành, dẫn đến văn minh, tiến bộ và hạnh phúc.

  • Một đất nước có luật pháp và luật pháp được mọi tầng lớp nhân dân tôn trọng triệt để là một đất nước có nền an ninh trật tự lý tưởng.

  • Xã hội được hình thành từ dân.Pháp luật được cơ chế hoá từ dân trong một nước dân chủ.

  • Có dân chủ tự do người dân mới có quyền và có cơ hội đồng đều tham gia vào quá trình kiến tạo luật pháp quốc gia bằng nhiều hình thức, tiêu biểu như:

Bày tỏ ý kiến qua việc trưng cầu dân ý. Ví dụ, một dự thảo hiến pháp được công khai thăm dò ý dân trước khi đúc kết đưa ra thông qua tại quốc hội lập hiến và toàn dân phúc quyết..

 

Ứng cử vào quốc hội lập hiến hoặc quốc hội lập pháp để trực tiếp tham gia kiến tạo hiến pháp hoặc luật pháp.

Bầu cử người đại diện cho mình vào quốc hội lập hiến hoặc quốc hội lập pháp để gián tiếp theo gia kiến tạo hiến pháp hoặc luật pháp.

 

Luật pháp trong một xã hội dân chủ phản ảnh trung thực quyền tự do của người dân. Ở đó, luật pháp được hành pháp, tư pháp bảo vệ và thực thi nghiêm minh. Nếu mọi người dân đề thể hiện quyền tự do của mình trong ý thức tôn trọng, bảo vệ luật pháp quốc gia và trật tự xã hội một cách nghiêm túc thì an ninh quốc gia được hoàn thiện, quyền lực quốc gia được ổn cố, trật tự xã hội được bảo đảm, quyền lợi công dân được chu toàn, sinh hoạt dân chủ được bền vững, các quyền tự do được thăng hoa.

 

Ngược lại, nếu:

Lập pháp, hành pháp, tư pháp không phân lập thì luật pháp quốc gia không được kiến tạo từ dân, do dân và vì dân. Trường hợp này luật pháp chỉ là một công cụ đuợc lập ra với mục đích khống chế dân, áp đặt mọi việc lên dân để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của nhà cầm quyền, bất chấp quyền lợi quốc gia dân tộc.

 

Nếu luật pháp được hình thành đúng quy cách sinh hoạt dân chủ mà người dân thể hiện quyền tự do của mình một cách bất chấp luật pháp, bất chấp trật tự xã hội, thì "quyền tự do cái kiểu này" của người dân nầy sẽ dẫm đạp lên "quyền tự do cái kiểu khác" của người dân khác. Cứ như vậy, trong cộng đồng dân tộc Việt Nam ta đang có hơn 80 triệu người, nếu người nào cũng tự mình thể hiện quyền tự do một cách riêng khác thì sẽ có bao nhiêu "kiểu tự do"? Sẽ có bao nhiêu vụ việc dẫm đạp lên nhau trong quá trình thực thi quyền tự do của mỗi người dân? Trật tự xã hội sẽ bị nhiễu loạn, luật pháp quốc gia sẽ bị vô hiệu hóa, chừng đó đất nước chúng ta sẽ đi về đâu?

 

Ðể quyền lực quốc gia được tôn trọng, quyền lợi nhân dân được bảo vệ tốt, mọi người dân đều có bổn phận và trách nhiệm thể hiện quyền tự do của mình trong tinh thần thượng tôn luật pháp, đồng thồi tích cực bảo vệ trật tự xã hội.

Mọi hành vi vượt quá giới hạn luật pháp hoặc tác động xấu tới trật tự xã hội đều bị pháp luật trừng trị và xã hội lên án.

 

VIII- Thể chế dân chủ đa đảng có lợi ích gì cho một quốc gia

 

Thể chế dân chủ đa đảng là thể chế sinh hoạt chính trị đa nguyên, khuyến khích đối lập, chấp nhận đấu tranh trong tinh thần thượng tôn pháp luật. Thể chế nầy có xu thế luôn luôn thúc đẩy mọi người, mọi giới, các hội đoàn xã hội, các tổ chức chính trị nỗ lực không ngừng trong công cuộc hoàn thiện nhà nước và các vấn đề về năng lực lãnh đạo. Ở đó, việc phát triển đất nước sao cho đúng hướng? Bằng cách nào để nâng cao đời sống nhân dân và đáp ứng thỏa đáng các yêu cầu an sinh xã hội? Làm thế nào để phát huy đúng mức các quyền tự do dân chủ trong quần chúng nhân dân?..Là các đề tài được chú trọng thảo luận thường xuyên, đôi khi không tránh được các cuộc tranh luận sôi nổi, thậm chí gay gắt.

 

Các nỗ lực nghiên cứu, trình bầy, thảo luận, bình luận, tranh luận công khai trước công luận sẽ tác động sâu sắc tới tầm nhìn, nếp nghĩ của người dân. Từ đó kiến thức mọi người mọi giới được kích thích phát huy, quá trình nâng cao dân trí mặc nhiên có cơ sở vững chắc và hiệu quả. Từ đó các đối tượng có liên quan có cơ hội nghe rõ ý kiến của nhau và của công luận, sẽ đưa họ đến chỗ hiểu biết nhau hơn và sớm có điều kiện xích lại gần nhau hơn.

 

Phương thức đấu tranh dưới thể chế dân chủ đa đảng là đối thoại. Ðối thoại giữa các đoàn thể đấu tranh với nhau, hoặc giữa các đoàn thể với chính quyền đương nhiệm, chủ yếu là tìm điểm chung tối ưu, có lợi cho quốc gia dân tộc, tác động nhau hoàn thiện điểm chung và tác động nhau thực hiện điểm chung tối ưu đó một cách có hiệu quả.

 

Bởi các đặc tính đó, trong sinh hoạt chính trị đa đảng không thể có một quyền lực độc tài chuyên chính nào tồn tại, cũng không thể có một quyền lực nào bắt buộc mọi người phải thống thuộc. Ở đó, mọi ngưòi dân đều được bình đẳng trước pháp luật, được quyền tham chính, được quyền tham gia công việc quản lý nhà nước, đuợc quyền phê bình xây dựng lãnh đạo các cấp nhà nước, được công khai bày tỏ chính kiến, được thể hiện đầy đủ mọi quyền tự do của người dân. Ở đó hành pháp, lập pháp và tư pháp là tam quyền phân lập, không nhập nhằng, không là công cụ tập trung củng cố đặc quyền đặc lợi cho bất kỳ một đảng phái nào. Ở đó cảnh sát và quân đội không phải là công cụ dùng để răn đe, đàn áp nhân dân trong mục đích bảo vệ một chế độ cường quyền, hoặc bảo vệ quyền lực bất chính của một thế lực đảng phái nào. Ở đó không có chỗ cho việc phân biệt đối xử, không có chỗ cho "cá lớn nuốt cá bé", không có chỗ cho hận thù phát sinh. Ở đó chỉ có pháp trị chứ không có chỗ cho đảng trị, càng không có chỗ cho độc tài, độc quyền. Ở đó luật đào thải sẽ đến với đảng chính trị nào mị dân, hoặc không thực sự phục vụ cho quốc gia dân tộc, hoặc không đủ khả năng tài đức dẫn đưa đất nước đi lên.

Tóm lại, thể chế dân chủ đa đảng có các lợi ích tiêu biểu cho một quốc gia như sau:

  • Vấn đề của đất nước là vấn đề của toàn dân. Khi toàn dân tham gia việc nước thì đất nước sẽ vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi đối phương. Hội nghị Diên Hồng trong lịch sử Việt Nam ta đã từng chứng minh hùng hồn điều nầy.

  • Ngăn tiêu cực, phá bất công, xóa đặc quyền đặc lợi, diệt độc tài.

  • Thúc đẩy mọi người, mọi giới và nhà nước vươn tới đỉnh cao hoàn thiện trong tất cả mọi lãnh vực.

  • Thúc đẩy công cuộc phát triển đất nước không ngừng.

IX- Thể chế độc tài đảng trị nguy hại như thế nào cho quốc gia dân tộc

 

Thể chế độc tài đảng trị mà đảng CSVN đã du nhập và áp đặt lên nhân dân miền Bắc hơn nửa thế kỷ, phủ chụp lên nhân dân miền Nam hơn một phần năm thế kỷ đã hằn sâu quá nhiều thảm họa.

  - Về chính trị: Xây dựng đảng bằng sự khích động lòng căm thù và đấu tranh giai cấp. Trong giai đoạn toàn quốc kháng chiến chống thực dân, phát xít thì đảng CSVN hợp tác với các đảng phái  khác, nhưng khi nắm chắc chính quyền thì đảng CSVN dùng mọi thủ đoạn thâm độc "bẻ đũa từng chiếc", lần lượt triệt hạ hết các đảng phái quốc gia khác. Sau đó công khai chủ trương độc đảng, chối bỏ đa nguyên, từ khước đa đảng, tiêu diệt đối lập. Một mình một chợ, đảng CSVN độc quyền lãnh đạo, đảng chính là nhà nước, đã hình thành chính sách độc tài đảng trị, phạm phải quá nhiều sai lầm, gây tội ác, bức bách cả một dân tộc và đất nước phải đắm chìm trong cơn mê độc hại dài dằng dặt, suốt qua nhiều thập kỷ, phủ chụp lên đầu nhân dân biết bao hoảng loạn, chết chóc, nghèo khó, đau thương.

 

  - Về xã hội: Nạn phân biệt giai cấp đã đưa tới nạn phân biệt đối xử, bất công là hệ quả tất yếu của các nạn nầy. Tệ đặc quyền đặc lợi trong hệ cầm quyền của đảng CSVN đã dẫn tới móc ngoặc trục lợi, bệnh tham nhũng hình thành từ đó. Chính Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã phải thú nhận:"Tham nhũng đã trở thành quốc nạn". Hậu quả của tham nhũng là tệ nạn xã hội hoành hành, trật tự xã hội nhiễu loạn, giá trị đạo đức băng hoại.

 

  - Về kinh tế: Qua nhiều thập niên, đảng CSVN đã mang một nửa dân tộc Việt Nam ở phía Bắc ra làm vật thí nghiệm đại trà cho việc thể nghiệm mô hình kinh tế chỉ huy (còn gọi là kinh tế tập trung - kinh tế theo kiểu XHCN). Sau 30/4/75, đảng CSVN mang cả dân tộc Việt Nam ra tiếp tục làm cuộc thí nghiệm cho mô hình kinh tế XHCN. Ðến năm 1985 Cộng sản Liên Xô sửa sai, ngay năm sau (1986) Cộng sản Việt Nam bắt đầu sửa sai, đổi mới. Từ chỗ thù nghịch với kinh tế thị trường Cộng sản Việt Nam quay sang bám nước rút kinh tế thị trường, nhưng vẫn còn tiếc rẻ đặc quyền đặc lợi trong định chế xã hội chủ nghĩa, nên đã chủ trương áp dụng "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

 

Trong nhiều thập kỷ trước 1986, đảng CSVN đánh tư sản triệt để, tiêu diệt công thương nghiệp tư doanh, thủ tiêu tiềm năng sản xuất, phá vỡ tiềm lực kinh tế tư sản tư doanh làm ảnh hưởng điêu đứng lực lượng lao động, dẫn đến khủng hoảng, thất nghiệp, đói nghèo tràn lan trong đời sống nhân dân.

 

Sau năm 1986, đảng CSVNcố kêu gọi, hô hào, khuyến khích, phục hồi các tiềm năng sản xuất, dựng dậy tiềm lực kinh tế tư sản tư doanh để mong cứu vãn nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bị phá sản. Thực tế đã cứu vãn được cơn suy thoái trầm trọng đó nhưng không đẩy được sự phát triển đúng hướng. Trong khi đó, môi trường cạnh tranh để đi lên ngày càng gay gắt, điểm xuất phát của nền kinh tế Việt Nam quá thấp (chỉ mới gượng xây lại sau nhiều thập niên phá), hiện tượng thoát não vẫn còn tiếp diễn, khả năng quản lý kinh tế không theo kịp các yêu cầu hiện đại hóa của nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư nước ngoài còn nhiều quan ngại. Tụt hậu kinh tế không chỉ còn là nguy cơ như Tổng bí thư Ðỗ Mười đã báo cáo trong đại hội đảng Cộng sản giữa nhiệm kỳ khóa VII (20/1/94-25/1/94) mà sẽ trở thành tất yếu! Bởi vì đại hội VIII đảng Cộng sản toàn quốc (28/6, 29/6, 30/6, 1/7/96) đã tỏ rõ không sửa sai tốt hơn, họ khẳng định: "Tiếp tục đổi mới về kinh tế nhưng tăng cường nhiều hơn việc tập trung quản lý, kiểm soát, điều động của nhà nước. Khuyến khích (gò ép) các thành phần kinh tế tư nhân quay lại cách làm ăn hợp tác xã, liên doanh với nhà nước. Phát triển đa dạng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo". Hiện nay Việt Nam được xếp vào vị trí một trong 10 quốc gia nghèo nhất thế giới. Thu nhập bình quân hằng năm tại Việt Nam chưa tới 300 đô la Mỹ/người, trong lúc các nước cùng khối Asean với Việt Nam, thu nhập bình quân hàng năm cho mỗi người dân của họ đã đạt tới hàng chục ngàn đô la Mỹ.

 

- Về tòa án: Tình trạng xét xử tại các tòa án Việt Nam trong suốt nhiều thập kỷ cầm quyền của Cộng sản cho đến nay chỉ là việc làm chuộng hình thức, thực chất các tòa án nầy đều là công cụ dành để luận tội, kết tội và tuyên án theo chỉ thị của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam.

 

- Về thông tin, báo chí: Ðộc quyền, bưng bít sự thật của mình, xuyên tạc sự thật của người, không có chỗ cho tiếng nói đối lập lên tiếng. Hậu quả của việc thông tin, báo chí độc quyền là dẫn đến ngu dân, hãm đà tiến của quốc gia dân tộc, tụt hậu kinh tế, lạc hậu về giáo dục, sa đà trên mọi lãnh vực.

 

- Về tôn giáo: Kềm hãm, khống chế và chi phối. Ðã từng xẩy ra các vụ: "giáo hội quốc doanh" thì có quyền "hành đạo", còn "giáo hội tư nhân thì không được phép sinh hoạt giáo sự". Ðã từng có nhiều nhà sư, linh mục, các chức sắc trong các giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo, Cao Ðài bị bắt, bị giam giữ, bị quản thúc mà các tổ chức nhân quyền quốc tế gọi đó là những tù nhân lương tâm.

 

Nhìn chung, thể chế độc tài đảng trị có những nguy hại tiêu biểu như sau:

  • Dân chủ, tự do và nhân quyền không có đất sống.

  • Ðộc đảng, độc tài, độc quyền, độc đoán đã trở thành độc hại: sinh ra đặc quyền đặc lợi, móc ngoặc, tham nhũng và đầy dẫy tệ nạn xã hội.

  • Tham tàn hủ lậu đã trở thành bản chất.

  • Ðất nước nghèo nàn lạc hậu.

  • Nhân dân cơ cực lầm than.

Tóm lại, chế độ độc tài đảng trị hiện nay tại Việt Nam đang là Quốc Nạn phải chấn dứt!

 

(Viết tại Campuchia, ngày 20/03/96)